Home Cột sốngGai cột sống Hẹp ống sống- Triệu chứng và các chuẩn đoán

Hẹp ống sống- Triệu chứng và các chuẩn đoán

by Sức khỏe cột sống
0 comment

Hẹp ống sống xảy ra khi một hoặc nhiều lỗ sống bị thu hẹp và giảm không gian cho các dây thần kinh. Quá trình này có thể xảy ra trong ống tủy (nơi tủy sống chạy xuống dưới ở vùng trung tâm) và / hoặc trong lỗ liên hợp đốt sống, nơi các dây thần kinh cột sống thoát ra khỏi ống sống. Tùy thuộc vào vị trí và mức độ hẹp, một dây thần kinh cột sống hoặc tủy sống có thể bị chèn ép và gây ra triệu chứng đau, ngứa ran, tê và / hoặc yếu.

Các dấu hiệu và triệu chứng hẹp ống sống
Triệu chứng hẹp ống sống có thể rất khác nhau giữa các bệnh nhân. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm:

Đau: Cơn đau có thể âm ỉ và giới hạn ở vùng cổ hoặc thắt lưng, hoặc cơn đau có thể biểu hiện giống như điện lan ra cánh tay hoặc xuống chân. Cơn đau có thể thay đổi theo thời gian, có thể khởi phát sau một số hoạt động nhất định. Đôi khi cơn đau là cảm giác ngứa ran, châm chích như kim châm
Tê: Giảm cảm giác hoặc tê bì hoàn toàn có thể xảy ra ở cánh tay, chân và / hoặc các khu vực khác của cơ thể.
Yếu: Giảm sức mạnh cơ hoặc các vấn đề liên quan đến sự phối hợp vận động ở cánh tay, chân và / hoặc các bộ phận khác của cơ thể. Sự chèn ép nghiêm trọng của tủy sống hoặc vùng đuôi ngựa (rễ thần kinh đoạn cuối tủy sống) có thể dẫn đến rối loạn chức năng ruột và / hoặc bàng quang.
Hẹp ống sống không phải lúc nào cũng gây đau. Mặc dù hiếm gặp, tê hoặc yếu có thể ít xuất hiện hoặc không đau.

Nguyên nhân thường gặp
Hẹp ống sống thường được gây ra bởi một hoặc nhiều yếu tố sau:

Thoái hóa cột sống. Khi sụn bao phủ các khớp liên mấu (khớp nối giữa các đốt sống liền kề) bắt đầu bị phá vỡ, đầu xương cọ xát vào nhau và có thể dẫn đến sự hình thành, phát triển xương bất thường, gọi là gai xương. Kết quả dẫn đến viêm và hình thành loãng xương có thể làm thu hẹp lỗ sống.

Thoái hóa đĩa đệm. Khi đĩa mất nước và bắt đầu xẹp, lỗ liên hợp đốt sống cũng bị thu hẹp. Đĩa đệm cũng có thể phình vào ống sống. Thoái hóa đĩa đệm cũng có thể gây tăng áp lực lên các khớp liên mấu và đẩy nhanh quá trình thoái hóa của chúng.

Dây chằng dày lên hoặc xù xì. Dây chằng trong ống sống có thể vôi hóa (dày lên và biến thành mô xương) và xâm lấn vào tủy sống hoặc các dây thần kinh cột sống gần đó. Một số dây chằng cũng có thể tổn thương dẫn đến bề mặt xù xì dễ chèn vào ống sống khi quá trình thoái hóa tiến triển.
Các yếu tố khác cũng có thể góp phần vào hẹp ống sống, chẳng hạn như biến dạng cột sống hoặc phát triển nang.

Xu hướng của hẹp ống sống
Sự thu hẹp của ống sống thường phát triển theo thời gian như là một phần của quá trình lão hóa. Mặc dù hẹp ống sống thường xảy ra ở những người từ 50 tuổi trở lên, nó cũng có thể phát triển sớm hơn do chấn thương hoặc từ khi sinh ra (bẩm sinh).

Tình trạng hẹp cột sống có thể xấu đi theo thời gian, nhưng tốc độ tiến triển là khác nhau và không phải lúc nào cũng gây ra triệu chứng. Trong khi một số người lại có biểu hiện các triệu chứng xấu đi dần dần, một số bệnh nhân có thể giảm bớt triệu chứng bằng vật lý trị liệu, thuốc, nghỉ ngơi hoặc các phương pháp điều trị không phẫu thuật khác (điều trị bảo tồn).

Khi thiếu hụt chức năng thần kinh, chẳng hạn như tê hoặc yếu tiếp tục xấu đi mặc dù đã nghỉ ngơi và điều trị bảo tồn, chỉ định phẫu thuật cần được xem xét. Phẫu thuật thường được khuyến nghị cho hẹp ống sống khi chẩn đoán hình ảnh và các biện pháp chẩn đoán khác cho thấy các dấu hiệu và triệu chứng có khả năng thuyên giảm bằng cách giải ép dây thần kinh và / hoặc tủy sống. Trước khi lựa chọn phẫu thuật hẹp ống sống, điều quan trọng là phải thảo luận về những rủi ro tiềm ẩn và các lựa chọn điều trị khác với bác sĩ phẫu thuật.

– Khi nào tình trạng hẹp ống sống coi là nghiêm trọng

Thiếu hụt chức năng thần kinh – chẳng hạn như bệnh lý rễ thần kinh, bệnh tủy sống và / hoặc hội chứng đuôi ngựa – có thể phát triển khi chứng hẹp cột sống trở nên nghiêm trọng. Nếu một dây thần kinh cột sống hoặc tủy sống bị chèn ép đủ lâu, có thể bị tê và / hoặc liệt vĩnh viễn. Điều quan trọng là cần thăm khám y tế ngay lập tức khi có bất kỳ dấu hiệu tê bì hoặc yếu lan xuống cánh tay hoặc chân, hoặc bất kỳ dấu hiệu nào trong sự phối hợp hoặc kiểm soát cơ tròn tiêu hóa / bàng quang.

Phân loại hẹp ống sống
Hẹp ống sống là một thuật ngữ chung cho hẹp một hoặc nhiều lỗ sống (lỗ xương) trong cột sống. Có các tên cụ thể cho chứng hẹp ống sống tùy thuộc vào vị trí của nơi xảy ra tình trạng hẹp và chèn ép dây thần kinh.

Hai loại hẹp ống sống là hẹp lỗ liên hợp, còn được gọi là hẹp bên, liên quan đến chèn ép hoặc viêm dây thần kinh cột sống; và hẹp ống tủy trung tâm, liên quan đến chèn ép hoặc viêm tủy sống.

– Hẹp lỗ liên hợp (Hẹp bên)

Lỗ liên hợp đốt sống là lỗ xương nơi một dây thần kinh cột sống thoát ra khỏi ống sống giữa hai đốt sống liền kề. Khi một hoặc nhiều lỗ liên hợp bị thu hẹp, nó được gọi là hẹp lỗ liên hợp cột sống. Khi tình trạng này xảy ra, dây thần kinh cột sống có ít không gian hơn và có thể bị chèn ép, đau và / hoặc rối loạn chức năng.

Mặc dù tình trạng hẹp có thể xảy ra ở bất kì lỗ liên hợp nào trong suốt chiều dài cột sống, nhưng nó thường xảy ra ở cột sống thắt lưng. Nó cũng có thể xảy ra ở cột sống cổ nhưng hiếm khi ở cột sống ngực.

Các thuật ngữ hẹp lỗ liên hợp và hẹp bên thường được sử dụng thay thế cho nhau vì cả hai đều đề cập đến hẹp xảy ra ở phía bên của ống sống. Các thuật ngữ khác có thể được sử dụng để xác định chính xác hơn vị trí chèn ép dây thần kinh cột sống bao gồm:

Hẹp trong lỗ liên hợpxảy ra khi dây thần kinh cột sống bị chèn ép ngay trước khi nó thoát ra khỏi lỗ liên hợp
Hẹp ngoài lỗ liên hợp: xảy ra khi các dây thần kinh cột sống đã thoát ra khỏi các lỗ liên hợp
– Hẹp ống tủy trung tâm

Các lỗ sống là lỗ xương ở vị trí trung tâm của đốt sống, bảo vệ tủy sống khi nó chạy xuống trong ống sống. Khi một hoặc nhiều các đốt sống này hẹp lại, nó được gọi là hẹp ống trung tâm. Với hẹp ống sống trung tâm, tủy sống sẽ có ít không gian hơn và có thể bị chèn ép, điều này có thể dẫn đến đau và / hoặc rối loạn chức năng bất cứ vùng ở phía dưới nơi bị chèn ép.

Hẹp ống tủy trung tâm có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào của cột sống, nhưng nó thường xảy ra ở cột sống thắt lưng hoặc cột sống cổ. Cũng có thể hẹp cả lỗ liên hợp và hẹp ống sống trung tâm xảy ra đồng thời.

Khi hẹp ống sống xảy ra, ước tính có từ 5% đến 60% các trường hợp liên quan đến ít nhất 2 tầng của cột sống, chẳng hạn như vùng cổ và thắt lưng (hẹp đôi). Các dấu hiệu, triệu chứng và chẩn đoán hẹp ống sống có thể thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào vị trí và mức độ nghiêm trọng.

Triệu chứng hẹp ống sống và chẩn đoán
Có một số dấu hiệu và triệu chứng tiềm tàng của hẹp ống sống. Các dấu hiệu và triệu chứng cụ thể chủ yếu được xác định bởi vị trí và mức độ nghiêm trọng của hẹp trong ống sống.

5.1. Các triệu chứng và dấu hiệu hẹp cột sống thường gặp

Một số triệu chứng và dấu hiệu phổ biến của hẹp ống sống có thể bao gồm một hoặc nhiều điều sau đây:

Đau lan:có thể lan tỏa từ cột sống xuống cánh tay hoặc chân. Mức độ có thể từ đau âm ỉ đến đau giống như điện hoặc cảm giác nóng rát.
Dấu hiệu rễ thần kinh:liên quan đến sự thiếu hụt chức năng thần kinh do bị chèn ép rễ thần kinh sống, chẳng hạn như ngứa ran, tê hoặc yếu một cánh tay hoặc chân.
Dấu hiệu tủy sống:liên quan đến sự thiếu hụt chức năng thần kinh do chèn ép tủy sống, chẳng hạn như ngứa ran, tê hoặc yếu cả cánh tay và / hoặc chân. Bệnh tủy sống cũng có thể liên quan đến rối loạn chức năng ở những nơi khác trong cơ thể, chẳng hạn như các vấn đề về kiểm soát cơ bàng quang / ruột.
Hội chứng đuôi ngựa:dẫn đến thiếu hụt chức năng thần kinh do chèn ép vùng đuôi ngựa (rễ thần kinh cuối tủy sống). Nhiều dấu hiệu và triệu chứng có thể xuất hiện ở chi dưới, bao gồm mất cảm giác vùng yên ngựa và / hoặc đại tiện / bàng quang không tự chủ. Hội chứng đuôi ngựa cần được can thiệp y tế ngay lập tức để tránh tổn thương thần kinh vĩnh viễn.
Mặc dù hẹp cột sống thường liên quan đến cơn đau lan ra chân hoặc cánh tay, đôi khi cơn đau được cảm nhận cục bộ hơn ở cột sống, chẳng hạn như ở tại vùng cổ hoặc thắt lưng.

5.2 Phẫu thuật mở ống sống bao gồm loại bỏ 2 mảnh và gai sau. Các mái vòm đốt sống giúp bảo vệ mặt sau của tủy sống. Bằng cách loại bỏ một phần của vòm đốt sống trong phẫu thuật, nhằm mục tiêu là giải ép tủy sống và rễ thần kinh đang bị chèn ép hoặc viêm do hẹp ống sống gây ra. Trong hẹp ống sống nặng, các phần của một hoặc nhiều khớp liên mấu cũng có thể được loại bỏ như là một phần của phẫu thuật mở ống sống.
5.3 – Mở rộng lỗ liên hợp (Foraminotomy)
5.4 – Mổ lấy đĩa đệm và ghép xương (Discectomy và Fusion)
5.5 – Các lựa chọn phẫu thuật khác cho hẹp ống sống
5.6 6.6. Rủi ro của phẫu thuật hẹp ống sống
– Khởi phát triệu chứng hẹp cột sống
Nhìn chung, các triệu chứng hẹp cột sống thường được đặc trưng là:

Tiến triển chậm theo thời gian
Xuất hiện và tồn tại, trái ngược với cơn đau xảy ra
Xảy ra trong một số hoạt động nhất định (như đi bộ hoặc đạp xe trong tư thế giữ đầu thẳng ở bệnh nhân có chứng hẹp ống sống thắt lưng) và / hoặc các tư thế (như đứng thẳng với hẹp ống sống thắt lưng)
Cảm thấy nhẹ nhõm khi nghỉ ngơi (ngồi hoặc nằm) và / hoặc bất kỳ tư thế gập người (uốn cong về phía trước)
Mặc dù hiếm gặp, nhưng chứng hẹp ống sống cũng có thể xuất hiện chủ yếu triệu chứng khiếm khuyết thần kinh, chẳng hạn như tê và / hoặc yếu, thay vì đau.

– Triệu chứng hẹp ống sống theo vị trí
Tùy thuộc vào vị trí bị hẹp, các dấu hiệu và triệu chứng có thể khác nhau. Các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến cho các vị trí khác nhau được làm sáng tỏ dưới đây:

– Hẹp cột sống thắt lưng:
Hẹp ống sống ở đoạn thắt lưng có thể chèn ép (các) dây thần kinh cột sống thắt lưng dẫn đến đau, ngứa ran, tê và / hoặc yếu chân. Nếu vùng đuôi ngựa (dây thần kinh sống chạy xuống ống sống thắt lưng) bị chèn ép, hội chứng đuôi ngựa có thể xảy ra.

– Hẹp ống sống đoạn cổ
Hẹp ống sống đoạn cổ có thể chèn ép (các) dây thần kinh cột sống cổ và dẫn đến đau, ngứa ran, tê và / hoặc yếu tay. Nếu tủy sống bị chèn ép, đau và / hoặc thiếu hụt chức năng thần kinh có thể gặp ở bất cứ đâu trong cơ thể dưới đoạn bị chèn, bao gồm cả chân.

– Hẹp ống sống đoạn ngực
Hẹp ống sống đoạn ngực có thể chèn ép (các) dây thần kinh cột sống ngực và dẫn đến đau, ngứa ran, tê và / hoặc yếu vùng ngực hoặc bụng. Nếu tủy sống bị nén ở đoạn cột sống ngực, đau và / hoặc thiếu hụt chức năng thần kinh có thể gặp phải ở mức độ ngang mức hoặc thấp hơn.

Hẹp ống sống thường gặp nhất ở cột sống thắt lưng và cột sống cổ. Nó hiếm khi xảy ra ở cột sống ngực. Hẹp ống sống cũng có thể xảy ra ở nhiều nơi, chẳng hạn như ở cả cột sống cổ và cột sống thắt lưng (hẹp đôi).

5.2. Chẩn đoán hẹp ống sống
Để có được chẩn đoán chính xác cho chứng hẹp ống sống thường đòi hỏi quá trình 3 bước:

Bệnh sử: Một đánh giá cẩn thận về bệnh sử của bệnh nhân, bao gồm các dấu hiệu và triệu chứng gần đây, giúp thu hẹp danh sách các nguyên nhân có thể gặp.
Thăm khám lâm sàng: Chuyên gia y tế đánh giá thông qua nhìn và khám cột sống, dọc theo cột sống cổ hoặc thắt lưng. Ngoài việc kiểm tra tầm vận động của cột sống, các test lâm sàng cũng có thể được thực hiện đánh giá cơ lực của chân và / hoặc cánh tay, phản xạ gân xương và cảm giác (ngứa / tê). Các test kích thích cũng có thể được áp dụng để đánh giá sự vận động hoặc vị trí có thể gây chèn ép dây thần kinh và đau tồi tệ hơn. Ví dụ, Spurling test có thể được thực hiện ở vùng cổ. Test này thực hiện bằng cách xoay đầu về phía có triệu chứng, ngửa cổ và sau đó nhẹ nhàng áp tay lên đỉnh đầu và đánh giá cơn đau của bênh nhân.
Chẩn đoán hình ảnh: Sau khi khai thác bệnh sử và thăm khám thực thể có thể gợi ý hẹp ống sống, chẩn đoán phải được xác định bằng hình ảnh y học. Khi hình ảnh cho thấy hẹp hẹp lỗ liên hợp và / hoặc hẹp lỗ sống tương ứng với các triệu chứng của bệnh nhân thì sẽ được chẩn đoán hẹp ống sống. MRI là hình ảnh được sử dụng phổ biến nhất để chẩn đoán hẹp ống sống, nhưng CT với chụp tủy có thể được sử dụng trong trường hợp MRI không được lựa chọn. Cũng cần lưu ý rằng nhiều người bị hẹp ống sống được xác định trên hình ảnh nhưng không có triệu chứng và không cần điều trị.
Các chẩn đoán khác có thể được sử dụng bao gồm điện cơ và tiêm chẩn đoán, có thể giúp xác định triệu chứng cụ thể của dây thần nào.

6. Điều trị hẹp ống sống
Hầu hết các trường hợp hẹp ống sống có thể được điều trị bằng kết hợp các phương pháp điều trị không phẫu thuật, chẳng hạn như vật lý trị liệu, thuốc giảm đau, điều chỉnh chế độ sinh hoạt và / hoặc tiêm ngoài màng cứng. Khi đau dữ dội và / hoặc khiếm khuyết thần kinh tiếp tục xấu đi mặc dù đã điều trị bảo tồn tích cực, phẫu thuật có thể được xem xét.

6.1. Vật lý trị liệu
Chương trình vật lý trị liệu phù hợp và tập thể dục là một khâu của hầu hết mọi quá trình điều trị hẹp ống sống. Mặc dù các bài tập không phải là một phương pháp chữa bệnh, điều quan trọng là giúp bệnh nhân có khả năng duy trì hoạt động như sức chịu tải và không bị yếu đi do không vận động.

Bác sĩ điều trị có thể xây dựng một chương trình vật lý trị liệu dưới sự giám sát. Sau một thời gian hướng dẫn vật lý trị liệu, sau đó hầu hết mọi người có thể chuyển sang chương trình tập của riêng họ. Chìa khóa là bắt đầu chậm, và xây dựng sức mạnh và khả năng chịu đựng theo thời gian.

6.2. Thay đổi hoạt động
Nên tránh các hoạt động làm nặng thêm các triệu chứng hẹp cột sống. Đối với hẹp ống sống thắt lưng, bệnh nhân thường thoải mái hơn khi gập về phía trước. Ví dụ: khuyến nghị hoạt động thay đổi có thể bao gồm:

Cố gắng đi bộ cúi về trước và dựa vào khung tập đi hoặc xe đẩy thay vì đi thẳng
Đạp xe tại chỗ (nghiêng về phía tay lái) thay vì đi bộ để tập thể dục
Ngồi trong một chiếc ghế tựa thay vì trên một chiếc ghế thẳng.
Một số người có thể cảm thấy nhẹ nhõm bằng cách đeo nẹp cổ hoặc nẹp lưng, điều này có thể giúp ngăn ngừa cột sống di chuyển gây đau đớn. Mặc dù, đeo nẹp thường chỉ được khuyến nghị trong thời gian ngắn để tránh tình trạng teo cơ thêm, điều này có thể dẫn đến giảm sự hỗ trợ cho cột sống và đau hơn.

6.3. Thuốc
Các loại thuốc phổ biến được sử dụng để giúp giảm đau hẹp ống sống bao gồm:

Acetaminophen (Tylenol) hoạt động thông qua hệ thống thần kinh trung ương (não và tủy sống) để giúp giảm đau. Nó có sẵn không cần kê đơn.
Thuốc chống viêm không steroid (NSAID) giúp giảm viêm và đau. Ví dụ về NSAID bao gồm aspirin, ibuprofen, naproxen và celecoxib. NSAID có sẵn tại quầy hoặc mua bằng toa thuốc.
Với việc sử dụng thận trọng, một đợt điều trị ngắn hạn của thuốc opioid có thể hữu ích cho các cơn đau nghiêm trọng liên quan đến thần kinh. Một số bác sĩ cũng có thể kê toa thuốc giãn cơ và thuốc giảm mẫn cảm thần kinh, chẳng hạn như gabapentin.

Tác dụng phụ của thuốc luôn là một mối quan tâm. Để phòng ngừa, điều cần thiết là bệnh nhân phải đảm bảo bác sĩ và dược sĩ của họ biết về tất cả các loại thuốc và dị ứng thuốc. Khi dùng bất kỳ loại thuốc nào, cho dù đó là thuốc không kê đơn hoặc theo toa, hãy đọc và làm theo nhãn cảnh báo.

6.4. Tiêm Steroid ngoài màng cứng
Dưới hướng dẫn của máy tia X (fluoroscopy) và thuốc nhuộm tương phản, một cây kim được đưa vào ống sống để có thể tiêm corticosteroid vào khoang ngoài màng cứng. Mục tiêu của tiêm steroid ngoài màng cứng là giảm viêm rễ thần kinh và / hoặc tủy sống.

Mặc dù việc giảm đau do tiêm steroid ngoài màng cứng thường là tạm thời, nhưng nó có thể giúp bệnh nhân tiếp tục các bài tập và kéo dài như một phần của chương trình vật lý trị liệu.

Tiêm ngoài màng cứng không phải lúc nào cũng có vai trò cứu trợ, và đã có những trường hợp hiếm gặp tác dụng phụ nghiêm trọng. Điều quan trọng là phải thảo luận về những rủi ro và lợi ích của việc tiêm thuốc với một chuyên gia y tế.

Hẹp cột sống thường đáp ứng tốt với các phương pháp điều trị không phẫu thuật. Ở một số bệnh nhân, các dấu hiệu và triệu chứng có thể dẫn đến tàn tật và phẫu thuật có thể cần được xem xét.

6.5. Phẫu thuật hẹp ống sống
Khi hẹp ống sống làm chức năng thần kinh xấu đi, như tê bì hoặc yếu cơ, phẫu thuật có thể được xem xét nếu phương pháp điều trị bảo tồn không hiệu quả. Mục tiêu của phẫu thuật hẹp ống sống là giải ép dây thần kinh cột sống và / hoặc tủy sống để cho phép các dây thần kinh hồi phục và hoạt động tốt hơn.

Có một số lựa chọn phẫu thuật cho hẹp ống sống:

– Phẫu thuật mở ống sống (Laminectomy)
Phẫu thuật mở ống sống bao gồm loại bỏ 2 mảnh và gai sau. Các mái vòm đốt sống giúp bảo vệ mặt sau của tủy sống. Bằng cách loại bỏ một phần của vòm đốt sống trong phẫu thuật, nhằm mục tiêu là giải ép tủy sống và rễ thần kinh đang bị chèn ép hoặc viêm do hẹp ống sống gây ra. Trong hẹp ống sống nặng, các phần của một hoặc nhiều khớp liên mấu cũng có thể được loại bỏ như là một phần của phẫu thuật mở ống sống.
Phẫu thuật mở ống sống là phẫu thuật phổ biến nhất trong điều trị hẹp ống sống. Mặc dù đôi khi nó đi kèm với sự hợp nhất của các đốt sống liền kề để duy trì sự ổn định, nhưng điều đó không phải lúc nào cũng cần thiết.

– Mở rộng lỗ liên hợp (Foraminotomy)
Phẫu thuật mở rộng lỗ liên hợp sẽ cắt bỏ một phần nhỏ của lỗ liên hợp đốt sống (nơi dây thần kinh sống thoát ra khỏi ống sống). Ngoài việc loại bỏ một phần của lỗ liên hợp và các gai xương liên quan, có thể loại bỏ một phần đĩa đệm và / hoặc các mô mềm khác đang chèn ép dây thần kinh ở trong hoặc gần lỗ liên hợp.

Phẫu thuật mở rộng lỗ liên hợp ít xâm lấn hơn so với phẫu thuật mở ống sống, nhưng nó không phải là một lựa chọn khi hẹp ống sống diện rộng.

– Mổ lấy đĩa đệm và ghép xương (Discectomy và Fusion)
Đôi khi thoái hóa đĩa đệm đóng một vai trò quan trọng gây hẹp các lỗ liên hợp và ống sống. Trong những trường hợp này, đĩa bị xẹp có thể được khôi phục bằng cách loại bỏ đĩa bị hỏng và hợp nhất các đốt sống liền kề.

Có nhiều phương pháp phẫu thuật khác nhau để thực hiện phẫu thuật lấy đĩa đệm và ghép xương. Ở cổ, phương pháp phổ biến nhất là mổ lấy đĩa đệm, ghép xương cột sống cổ đường trước .

Trong trường hợp hẹp ống sống diện rộng hoặc ảnh hưởng ở nhiều cấp độ của cột sống, có thể ghép xương kế hợp với các phương pháp khác, chẳng hạn như phẫu thuật mở ống sống hoặc mở rộng lỗ liên hợp.

– Các lựa chọn phẫu thuật khác cho hẹp ống sống
Một số kỹ thuật phẫu thuật ít phổ biến đối với hẹp ống sống bao gồm:

Giải ép nội soi vi phẫu. Một lựa chọn phẫu thuật giảm áp là phẫu thuật thông qua một ống nội soi, được gọi là phẫu thuật vi phẫu. Mục tiêu của phương pháp này là giảm thiểu chấn thương cho mô mềm và cho phép phục hồi sớm hơn. Những hạn chế của phương pháp phẫu thuật này là khó thực hiện hơn và hình ảnh bị hạn chế so với phẫu thuật mở. Đó là một kỹ thuật mà nhiều bác sĩ phẫu thuật ưa thích, nhưng trong bệnh hẹp cột sống, nó đã không được áp dụng rộng rãi.
Interspinous process spacers: Các dụng cụ khác nhau có sẵn có thể được cấy ghép giữa các gai đốt sống liền kề để tăng không gian trong ống sống. Các thiết bị này có thể được cấy ghép bằng cách xâm lấn tối thiểu với gây tê tại chỗ thay vì gây mê toàn thân. Cần nhiều nghiên cứu hơn để xác định xem phương pháp này có mang lại lợi ích hơn so với phẫu thuật truyền thống trong một số trường hợp hẹp ống sống.
Cắt thân đốt sống: Hiếm khi thực hiện, phẫu thuật cắt bỏ thân đốt sống liên quan đến việc loại bỏ hoàn toàn một thân đốt sống và các đĩa liền kề bên trên và bên dưới. Phẫu thuật này được thực hiện nếu hẹp ống sống ở nhiều cấp độ và / hoặc thoái hóa cột sống lan rộng hoặc liên quan đến gãy xương.
Các lựa chọn phẫu thuật khác cho hẹp ống sống có thể có giá trị và các kỹ thuật mới luôn được nghiên cứu.

6.6. Rủi ro của phẫu thuật hẹp ống sống
Các bệnh nhân không đáp ứng với phương pháp điều trị bảo tồn, phẫu thuật hẹp ống sống là một điều trị tương đối an toàn và hiệu quả. Trong trường hợp khi chẩn đoán hình ảnh và / hoặc điện học không tương ứng với các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh nhân, phẫu thuật có khả năng không mang lại lợi ích và không đáng để mạo hiểm.

Như với bất kỳ phương pháp phẫu thuật, có những rủi ro tiềm ẩn với các biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như:

Nhiễm trùng
Chảy máu nhiều
Dị ứng
Tổn thương thần kinh hoặc tủy sống
Thất bại trong việc giảm đau, đau tăng hoặc cần phải phẫu thuật tiếp
Kỹ năng của bác sĩ phẫu thuật, mức độ hẹp và sức khỏe tổng thể của bệnh nhân là tất cả các yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật. Trước khi quyết định phẫu thuật, điều quan trọng là các rủi ro, lợi ích và các lựa chọn thay thế cho thủ thuật phải được giải thích cẩn thận. Nó cũng quan trọng đối với bệnh nhân để tất cả các câu hỏi của mình có được trả lời thỏa đáng.

You may also like

Leave a Comment